có những điều không nói ra, chỉ ghi lại...
pn

Thứ Sáu, tháng 12 25, 2015

Đêm rất thánh, đêm không cùng




Hát là cầu nguyện đến hai lần.
~ St. Augustine

Một anh bạn tôi, có cô vợ theo đạo công giáo, nói rằng anh ta chỉ theo vợ đến nhà thờ hai lần trong một năm, vào ngày lễ Phục Sinh và lễ Giáng Sinh. “Vậy là anh lấy hết hai ngày lễ lớn nhất của người công giáo rồi còn gì,” tôi nói đùa. “Riêng lễ Giáng Sinh,” anh ta nói, “không chỉ đi lễ nửa đêm, tôi còn hát theo được bài thánh ca.” “Bài gì?” tôi hỏi. Anh trả lời, “Đêm thánh vô cùng.”


Từ “Silent night”đến “Đêm thánh vô cùng”

Bài thánh ca giáng sinh mà anh bạn tôi yêu thích và hát theo được không phải là bài thánh ca của người Việt mà là bài nhạc ngoại quốc được viết lời Việt. Ít ai biết được rằng bài hát ấy là bài thơ được phổ nhạc, có điều không phải phổ thành nhạc mà là phổ vào nhạc.

Chuyện được kể lại như thế này: bài hát được “chào đời” và cất tiếng lần đầu tiên vào ngày 24/12/1818 tại một làng quê hẻo lánh ở Oberndorf, một tỉnh lẻ của nước Áo. Trong làng ấy có ngôi nhà thờ nhỏ St. Nicholas. Trong nhà thờ ấy có một linh mục trẻ yêu thơ, yêu nhạc tên Joseph Mohr (có tài liệu nói ông là thầy phó tế chứ chưa phải linh mục). Lời của bài hát vốn là bài thơ bằng tiếng Đức được cha Mohr sáng tác từ hai năm trước, tên là “Stille Nacht, heilige Nacht” (“Đêm thinh lặng, đêm thánh thiện”).

Vào hôm trước lễ Giáng Sinh cha Mohr tìm đến người bạn mình, một anh thầy giáo làng tên Franz Xaver Gruber, là người chơi đàn organ cho nhà thờ, nhờ gấp rút soạn nhạc và phối âm cho bài thơ ấy để kịp trình diễn với đàn guitar trong thánh lễ nửa đêm (vì lẽ cây đàn organ bị hỏng sao đó). Công việc cũng chẳng khó khăn gì lắm, chỉ mất vài tiếng đồng hồ, vì Gruber đã có sẵn trong tay một bài nhạc thánh ca mà anh từng viết ra trước đó, nay anh chỉ việc bỏ đi lời cũ và thay bằng lời thơ hay ý thơ của bạn mình là xong ngay. Thế rồi trong thánh lễ giáng sinh lúc nửa đêm, hai chàng nghệ sĩ có ngay màn trình diễn một sáng tác mới toanh cho cả nhà thờ thưởng thức trong tiếng đàn đệm guitar, hòa cùng giọng ca đoàn hát chung hai câu cuối của mỗi đoạn thơ. Bài hát kết thúc trong sự tán thưởng nồng nhiệt của đông đảo giáo dân trong làng.

Như vậy, bài hát có hai “đồng tác giả” người Áo là linh mục “nhà thơ” Joseph Mohr và nhạc sĩ “nhà giáo” Franz Gruber mà trước đó chẳng được ai biết đến tên tuổi. Cả hai đồng tác giả này thật khó mà ngờ được rằng bài hát soạn ra vội vã ấy một ngày kia sẽ bay ra khỏi ngôi giáo đường ở làng quê nhỏ bé đó, vượt qua biên giới nước Áo, vượt qua nhiều biên giới của nhiều quốc gia khác và bay đi khắp muôn phương để cứ mỗi mùa giáng sinh là mọi nhà thờ lớn nhỏ trên mặt đất này đều nghe cất lên bài thánh ca ấy trong tiếng chuông ngân rộn rã.

Do bản gốc của bài nhạc bị thất lạc, mãi đến năm 1995 khi một bản thảo chép tay bài “Stille Nacht, heilige Nacht” với thủ bút của linh mục Joseph Mohr được tìm thấy người ta mới biết được tác giả của bài hát là ai. Trước đó bài hát vẫn được xem là truyền khẩu hoặc gán cho tác giả là tên của những nhạc sĩ thiên tài.

Có những version khác nhau cho bài “Stille Nacht, heilige Nacht” nhưng cho đến nay bản viết năm 1818 với nhịp 6/8, cung Ré trưởng, gồm sáu lời nhạc vẫn được xem là bản gốc. Bài hát vượt cả không gian lẫn thời gian, trở thành bất hủ, cứ mỗi mùa giáng sinh lại rộn ràng cất lên trên khắp hành tinh này với giai điệu dìu dặt, ngọt ngào và êm dịu, phảng phất âm hưởng nhạc dân ca truyền thống của miền quê nước Áo. Người dân Áo hoàn toàn có thể hãnh diện khi bài thánh ca của quê hương mình được “nâng cấp”, không còn là riêng của nước Áo nữa mà đã được “quốc tế hóa” để trở thành bài thánh ca giáng sinh của cả nhân loại.

“Stille Nacht, heilige Nacht” được chuyển ngữ sang hầu hết mọi thứ tiếng trên thế giới, và đến nay người ta khó mà biết được chính xác đã có bao nhiêu bản dịch bài thánh ca này (có tài liệu nói bài hát được chuyển dịch đến hơn ba trăm thứ tiếng). Riêng đối với người Việt thì hai ngôn ngữ được yêu chuộng nhất của bài hát là tiếng Anh và… tiếng Việt. “Silent night”, tên bài hát với bản dịch tiếng Anh năm 1859 của giám mục John Freeman Young thuộc giáo phận Florida, Hoa Kỳ, được xem là bản phổ biến rộng rãi nhất, được nhiều người nghe và hát nhất hiện nay.

Đúng như tên gọi “Silent night”, bài hát khe khẽ, chầm chậm cất lên với câu nhạc khởi đầu bằng những nốt nhạc mềm mại tựa những bước chân rón rén, nhè nhẹ trong tâm trạng nao nức, thấp thỏm như đợi chờ điều gì đó thật kỳ diệu sắp sửa xảy ra. Nhạc điệu trầm lắng, dào dạt, khi vút lên cao khi chìm xuống thấp như tiếng gió rì rào lượn quanh những đồi thông.

Nếu nhiều người tỏ lòng biết ơn giám mục John F. Young về bản dịch tiếng Anh ấy thì người Việt mình cũng cần nói lời cám ơn nhạc sĩ Hùng Lân, người đã viết lời Việt cho bản thánh ca bất hủ này từ hơn nửa thế kỷ trước, và đặt tên cho bài hát là “Đêm thánh vô cùng”. Nói “viết lời Việt” vì ông không hề làm công việc dịch lời nhạc từ bản tiếng Đức hay tiếng Anh sang tiếng Việt mà ngoài cái tựa bài và một hai ý trong bài hầu như ông đã tự viết ra lời khác cho bài nhạc. Có thể nói được rằng, bài thánh ca giáng sinh ấy được ông “Việt hóa”, khiến người hát và người nghe cứ tưởng như bài thánh ca của người Việt chứ không phải của nước ngoài.

Người ta cám ơn nhạc sĩ Hùng Lân không hẳn vì ông là người đầu tiên đặt lời Việt cho bài “Silent night” mà vì những lời thật ý nghĩa ông viết ra cho bài nhạc ấy. Điểm khác biệt giữa nhạc thánh ca giáng sinh và những thánh ca khác, nói như linh mục nhạc sĩ Kim Long (tác giả bài thánh ca “Kinh hòa bình”), là ở lời ca. “Lời phải đi vào mầu nhiệm của giáng sinh,” linh mục nói, “phải diễn tả được mầu nhiệm của con người gặp gỡ Thiên Chúa, của đất với trời gặp gỡ nhau để có được sự giao hòa, nhập thể của con Thiên Chúa trong đêm đầy hồng phúc.”

Bài thánh ca ra đời trong đêm giáng sinh năm 1818 ấy, tính đến nay đã gần tròn hai trăm tuổi, cất lên mỗi mùa giáng sinh về, và cứ được nghe đi nghe lại mãi, tưởng như không bao giờ cũ, không bao giờ nhàm chán.


“Đất với trời xe chữ đồng”



Nhạc sĩ Hùng Lân


Nhiều người biết nhạc sĩ Hùng Lân là tác giả của “Hè về” (“Trời hồng hồng, sáng trong trong, ngàn phượng rung nắng ngoài song…”), một ca khúc vui tươi, sôi động trong số rất ít những bài hát phổ biến về mùa hè, nhưng ít ai biết ông là một nhạc sĩ đi tiên phong trong nhiều lãnh vực: là một trong những nhạc sĩ hàng đầu về nhạc hùng của tân nhạc Việt (tác giả những bài quen thuộc như “Rạng đông”, “Khỏe vì nước”, “Tiếng gọi lên đường”, “Mùa hợp tấu”, “Cô gái Việt”, “Việt Nam minh châu trời đông”…); là nhạc sĩ khởi xướng phong trào viết nhạc thánh ca bằng tiếng Việt; là soạn giả đầu tiên cho những sách giáo khoa về âm nhạc trong các trường học phổ thông; là một trong những người thầy sáng lập trường Quốc Gia Âm Nhạc Và Kịch Nghệ, Saigon và cũng là giáo sư âm nhạc tại trường này, tại Viện Đại Học Đà Lạt và nhiều trường học trong Nam ngoài Bắc (trong số ấy có trường Chu Văn An, Hà Nội); là “cha đẻ” của chương trình gọi là “Đố Vui Để Học” được Trung Tâm Học Liệu Saigon phát hình lần đầu tiên năm 1969, và cũng là người đầu tiên mang bài thánh ca nổi tiếng “Silent night” ấy đến với giáo dân và người Việt yêu nhạc.

Nhạc sĩ Hùng Lân không phải là người duy nhất viết lời Việt cho bài “Silent night”, sau ông nhiều nhạc sĩ đã thử viết lại những lời Việt khác với những tựa khác (“Đêm huy hoàng”, “Đêm vui mừng”, “Đêm âm thầm”, “Đêm thanh bình”, “Đêm yên bình”…) nhưng đều là những cố gắng không thành công, hiểu theo nghĩa người Việt yêu nhạc vẫn ở lại với “Đêm thánh vô cùng”. Vì sao vậy? Đâu là chỗ khác nhau giữa các “bản dịch” ấy?

Đầu tiên phải là cái tựa bài. Đêm ở đây là đêm thanh khiết, đêm sâu lắng, đêm im lặng mênh mông đến vô cùng. “Đêm thánh vô cùng” nối liền được cả hai ý: “silent night” và “holy night”. Đêm Chúa giáng sinh không chỉ thuần là đêm tối thinh lặng mà còn là đêm huyền diệu. “Đêm thánh vô cùng”, chỉ có tên gọi ấy mới nói hết được ý nghĩa của bài thơ, bài nhạc. Đêm rất thánh, đêm không cùng.

Nếu câu hát chủ điểm trong bài “Silent night” là “All is calm, all is bright” thì trong “Đêm thánh vô cùng”, câu hát ấy chính là “Đất với trời xe chữ đồng”. Cả bài thánh ca tiếng Việt ấy toát lên một ý chính, gói trọn trong câu sáu chữ này.

Người nhạc sĩ không nói “trời đất giao hòa” mà nói “đất với trời xe chữ đồng”. Có khá nhiều “đồng” ở trong “chữ đồng” ấy: đồng lòng, đồng tình, đồng tâm, đồng cảm, đồng thuận… “Đất” là con người, là tạo vật trên thế gian này; “Trời” là con Thiên Chúa, là đấng tối cao, đấng tạo dựng loài người.

“Đất với trời xe chữ đồng” là thời khắc mà khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người như được kéo gần lại, thời khắc mà tình yêu giữa đấng tối cao và con người, giữa con người và con người như được hợp nhất, hòa quyện vào nhau, khiến con người như gần với Thiên Chúa và gần với nhau hơn bao giờ.

“Đất với trời xe chữ đồng” là thời khắc mà Thiên Chúa mở lòng ra với mọi người và ban phát tình yêu thương bao la, thời khắc mà con người đón nhận tình yêu thương ấy như đón nhận “ơn châu báu không bờ bến”. Con người đồng thời cũng mở lòng ra với đồng loại để cho nhau tình yêu thương giữa người và người.

“Đêm thánh vô cùng” trong ý nghĩa đó là đêm hạnh ngộ, đêm tràn đầy hồng ân và chan chứa những thương yêu.

Ôi Chúa thiên đàng, cam nếm cơ hàn
Nhắp chén phiền, vương phong trần

Từ lâu tôi vẫn thích câu hát này, nghe có chút gì… phong trần, và cảm thấy Thiên Chúa thật gần gũi với con người vì Người cũng bôn ba, cũng lao đao lận đận, cũng…“bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao”, nào có khác chi người phàm.

Ai đang sống trong lạc thú
Nhớ rằng Chúa đang đền bù…

Bao giờ tôi cũng chờ để nghe giọng ngân ấy vút lên, “trong lạc th… u… ú…”, nghe như tiếng chuông cảnh tỉnh những ai còn đang mải mê ngụp lặn, miệt mài tìm kiếm những hoan lạc của cuộc sống trần tục.

Tôi không chắc có bao nhiêu người thuộc hết được lời bài “Đêm thánh vô cùng”, phần lớn chỉ nhớ được đến lời thứ hai của bài, còn lại là hát theo ca đoàn hoặc hát theo nhau cho đến câu hát cuối, “Bốn bề tuyết sương mịt mù”, trong lúc câu cuối bài “Silent night” được John F. Young viết lời là “Jesus, Lord, at Thy birth”. Điều lý thú là chẳng ai nêu thắc mắc với nhạc sĩ Hùng Lân, vì sao ông không chịu dịch cho sát nghĩa lời của bản gốc mà lại viết ra lời khác; hơn thế nữa, mọi người còn tỏ ra yêu thích lời Việt “cải biên” ấy. Liệu có phải là những lời ấy phù hợp với “tâm tình mùa giáng sinh” của tín hữu người Việt hơn? Cho đến ngày nhạc sĩ Hùng Lân lìa đời ở trong nước (năm 1986) người ta không nghe được nơi ông một lời giải thích nào cả.

Có điều là đến nay hầu như không ai còn có ý định chuyển dịch hoặc đặt lời Việt nào khác cho bài thánh ca giáng sinh ấy. Trong một nghĩa nào đó, kể từ ngày câu hát “Đêm thánh vô cùng! Giây phút tưng bừng!” được cất lên, bài “Silent night” như có một đời sống khác sau khi được “Việt hoá”. Người Việt cùng hát với nhau bài hát ấy trong niềm cảm xúc dạt dào khi mùa giáng sinh về, mà không cảm thấy đấy là bài thánh ca của nước ngoài.

Với ý nghĩa của bài hát, của “đất với trời xe chữ đồng”, “Đêm thánh vô cùng” hầu như thích hợp với hợp ca, đồng ca hơn là đơn ca. Bài hát càng thêm ý nghĩa khi được nhiều người cùng hát với nhau. Trước giờ tôi chưa nghe có giọng hát nào gọi là gắn liền với bài hát này, hoặc bài hát này làm nên tên tuổi của ca sĩ nào. Đến nay, sau nhiều lần nghe đi nghe lại bài thánh ca ấy, những lần gieo vào lòng tôi nhiều cảm xúc nhất vẫn là đến từ những màn hợp xướng của các ca đoàn hơn là từ ca sĩ chuyên nghiệp.

Hát “Đêm thánh vô cùng” là đi tìm sự bình an trong tâm hồn, là đi tìm vẻ đẹp trong sáng, hướng thượng để thanh lọc tâm hồn và để lòng lắng xuống trong giây phút lâng lâng tiếng nhạc.

* * *

“Silent night” không chỉ là bài thánh ca giáng sinh mà còn mang ý nghĩa của một thông điệp hòa bình cho nhân loại, một thông điệp mang đến tình yêu thương, lòng bao dung và thứ tha trong một thế giới an hòa. Nhân loại đến nay vẫn chưa thực sự có an bình, vẫn còn những con người đi gieo rắc thù ghét và bạo lực thay vì gieo rắc tình thương yêu đến cho đồng loại. Trong lúc thế giới đang có những biến động từng ngày từng giờ và cảm giác bất trắc, bất an phủ trùm lên đời sống con người hơn bao giờ thì bài thánh ca ấy vang lên trong mùa giáng sinh này như đáp ứng nỗi mong đợi, khát khao của những người “thiện tâm”.

Vào đúng lúc nửa đêm, vào đúng thời khắc Chúa giáng sinh, bài thánh ca có từ hai trăm năm trước ấy được triệu triệu tín hữu trên khắp hành tinh này cùng lúc trỗi giọng cất lên. Bài hát mang đến cho con người chút cảm giác yên bình hiếm hoi và cũng mang đến niềm tin vững vàng về những giá trị của chân, thiện, mỹ. Hát lên bài thánh ca ấy như thắp lên ngọn lửa tin yêu, cho bóng tối bị đẩy lùi, cho cái xấu, cái ác bị xóa sạch và những điều tốt, điều lành trên thế gian này sẽ không bao giờ mất đi.

Khi người ta cùng yêu thích, cùng chia sẻ những cảm xúc về một bài hát; hơn thế nữa, cùng hát chung với nhau một bài hát là có chung với nhau sự đồng cảm, đồng thuận.

“Singing together is praying together”, tôi tin là như vậy. Khi mà người người đồng lòng, “đồng thanh tương ứng” cất cao tiếng hát, khi mà người người đồng tâm hiệp ý nguyện dâng lời khẩn cầu lên đấng tối cao thì đức tin con người cũng mạnh mẽ hơn lên, tin vào mầu nhiệm của Đấng Cứu Thế giáng sinh, mầu nhiệm của con người gặp gỡ Thiên Chúa, mầu nhiệm của tình yêu Thiên Chúa đổ tràn xuống con người, và cả tình yêu giữa người và người trong đêm tràn đầy hồng ân.

Đất với trời… xe chữ đồng…


Lê Hữu


“Silent night”, André Rieu và dàn nhạc Johann Strauss:



“Đêm thánh vô cùng”, ca đoàn Ngàn Thông: